<!DOCTYPE html>
    <html lang="vi" xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml" prefix="og: http://ogp.me/ns#">
    <head>
<title>Yên Lãng nhất cô Châu</title>
<meta name="description" content="Yên Lãng nhất cô Châu - Savefile - Nghiên cứu khoa học - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;ling.ussh.vnu.edu.vn&#x002F;vi&#x002F;nghien-cuu-khoa-hoc&#x002F;savefile&#x002F;tac-gia-tac-pham&#x002F;yen-lang-nhat-co-chau-992.html">
<meta name="author" content="Khoa Ngôn ngữ học">
<meta name="copyright" content="Khoa Ngôn ngữ học [webmaster@flis.vinades.my]">
<meta name="generator" content="NukeViet v4.5">
<meta name="viewport" content="width=device-width, initial-scale=1">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<meta property="og:title" content="Yên Lãng nhất cô Châu">
<meta property="og:type" content="website">
<meta property="og:description" content="Savefile - Nghiên cứu khoa học - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;ling.ussh.vnu.edu.vn&#x002F;vi&#x002F;nghien-cuu-khoa-hoc&#x002F;savefile&#x002F;tac-gia-tac-pham&#x002F;yen-lang-nhat-co-chau-992.html">
<meta property="og:site_name" content="Khoa Ngôn ngữ học">
<meta property="og:url" content="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/savefile/tac-gia-tac-pham/yen-lang-nhat-co-chau-992.html">
<link rel="shortcut icon" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/uploads/ling/logoh.png">
<link rel="canonical" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/savefile/tac-gia-tac-pham/yen-lang-nhat-co-chau-992.html">
<link rel="alternate" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/rss/" title="Nghiên cứu khoa học" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/rss/gioi-thieu-chung/" title="Nghiên cứu khoa học - Giới thiệu chung" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/rss/chuong-trinh-de-tai-du-an/" title="Nghiên cứu khoa học - Chương trình, dề tài, dự án" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/rss/hoi-thao-toa-dam/" title="Nghiên cứu khoa học - Hội thảo, tọa đàm" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/rss/tac-gia-tac-pham/" title="Nghiên cứu khoa học - Tác giả tác phẩm" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/rss/thong-tin-tu-lieu/" title="Nghiên cứu khoa học - Thông tin tư liệu" type="application/rss+xml">
<link rel="preload" as="style" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/font-awesome.min.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/bootstrap.min.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.responsive.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/css/news.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/fonts/Alatsi/stylesheet.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/custom.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="script" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/jquery/jquery.min.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/language/vi.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/DOMPurify/purify3.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/global.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/site.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/js/news.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/main.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/custom.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/bootstrap.min.js" type="text/javascript">
<link rel="StyleSheet" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/font-awesome.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/bootstrap.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/css/news.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/fonts/Alatsi/stylesheet.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/custom.css">
<style type="text/css">
	body{background: #fff;}
</style>
    </head>
    <body class="sub-page">
<div id="print">
	<div id="hd_print">
		<h2 class="pull-left">Khoa Ngôn ngữ học</h2>
		<p class="pull-right"><a title="Khoa Ngôn ngữ học" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/">https://ling.ussh.vnu.edu.vn</a></p>
	</div>
	<div class="clear"></div>
	<hr />
	<div id="content">
		<h1>Yên Lãng nhất cô Châu</h1>
		<ul class="list-inline">
			<li>Thứ sáu - 07/08/2020 16:36</li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-print">&nbsp;</em><a title="In ra" href="javascript:;" onclick="window.print()">In ra</a></li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-power-off">&nbsp;</em><a title="Đóng cửa sổ này" href="javascript:;" onclick="window.close()">Đóng cửa sổ này</a></li>
		</ul>
		<div class="clear"></div>
		<div id="hometext">
		</div>
		<div id="bodytext" class="clearfix">
			<p>
	&ldquo;Y&ecirc;n L&atilde;ng nhất c&ocirc; Ch&acirc;u&rdquo; l&agrave; lời khẳng định về vị tr&iacute; số một độc đ&aacute;o m&agrave; &ldquo;bậc đ&agrave;n anh&rdquo; Nguyễn T&agrave;i Cẩn d&agrave;nh cho người nữ đồng nghiệp th&acirc;n thiết của m&igrave;nh. Phảng phất đ&acirc;u đ&oacute;, ch&uacute;ng ta bắt gặp sự h&oacute;m hỉnh trong lối chơi chữ hai lớp nghĩa v&agrave; cũng cả sự tinh tế của một đ&ocirc;i mắt hiểu lẽ đời.</p>
<p align="center">
	<span style="font-size:14px;"><strong>Y&Ecirc;N L&Atilde;NG NHẤT C&Ocirc; CH&Acirc;U</strong></span></p>
<p align="right">
	<span style="font-size:14px;"><strong>Dương Xu&acirc;n Quang</strong></span></p>
<p align="right">
	&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;">
	<span style="font-size:14px;">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &ldquo;Y&ecirc;n L&atilde;ng nhất c&ocirc; Ch&acirc;u&rdquo; l&agrave; lời khẳng định về vị tr&iacute; số một độc đ&aacute;o m&agrave; &ldquo;bậc đ&agrave;n anh&rdquo; Nguyễn T&agrave;i Cẩn d&agrave;nh cho người nữ đồng nghiệp th&acirc;n thiết của m&igrave;nh. Phảng phất đ&acirc;u đ&oacute;, ch&uacute;ng ta bắt gặp sự h&oacute;m hỉnh trong lối chơi chữ hai lớp nghĩa v&agrave; cũng cả sự tinh tế của một đ&ocirc;i mắt hiểu lẽ đời. H&igrave;nh ảnh đậm chất Đường thi gợi l&ecirc;n sự c&ocirc; độc của một con thuyền chơi vơi giữa kh&oacute;i s&oacute;ng m&ecirc;nh mang. Dường như suốt cuộc đời của vị nữ gi&aacute;o sư ng&ocirc;n ngữ học Việt Nam đầu ti&ecirc;n n&agrave;y, &iacute;t c&oacute; l&uacute;c B&agrave; được trải l&ograve;ng trọn vẹn. B&agrave; lặng lẽ sống, lặng lẽ suy tư v&agrave; lặng lẽ cống hiến. Nhưng chẳng phải Goethe đ&atilde; từng chi&ecirc;m nghiệm: &ldquo;T&iacute;nh c&aacute;ch dựng n&ecirc;n trong b&atilde;o t&aacute;p c&ograve;n Tr&iacute; tuệ h&igrave;nh th&agrave;nh trong y&ecirc;n tĩnh&rdquo; đ&oacute; sao. C&oacute; lẽ ch&iacute;nh v&igrave; c&oacute; những khoảng lặng ấy m&agrave; Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u đ&atilde; gửi tặng học giới v&agrave; cuộc đời những c&ocirc;ng tr&igrave;nh c&oacute; gi&aacute; trị học thuật tr&ecirc;n năm mảng nghi&ecirc;n cứu m&agrave; suốt hơn 50 năm qua B&agrave; trăn trở t&igrave;m t&ograve;i v&agrave; suy ngẫm.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
	<span style="font-size:14px;">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 1. Năm 1962, sau khi tốt nghiệp chuy&ecirc;n ng&agrave;nh Ngữ văn tại Đại học Tổng hợp Lomonosov (Li&ecirc;n X&ocirc;) trở về nước tham gia giảng dạy tại khoa Ngữ văn &ndash; Đại học Tổng hợp H&agrave; Nội, c&ocirc; gi&aacute;o Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u đ&atilde; x&aacute;c định vị tr&iacute; của một người nghi&ecirc;n cứu ng&ocirc;n ngữ học bằng b&agrave;i viết thuộc lĩnh vực Địa danh học m&agrave; tới nay sau nửa thế kỷ vẫn l&agrave; một c&ocirc;ng tr&igrave;nh gi&aacute; trị tưởng chừng như th&agrave;nh huyền thoại &ndash; <em>Mối li&ecirc;n hệ về ng&ocirc;n ngữ cổ đại ở Đ&ocirc;ng Nam &Aacute; qua một v&agrave;i t&ecirc;n s&ocirc;ng</em> (1964/1966). Từ việc phục nguy&ecirc;n dạng cổ &ldquo;*khloong&rdquo; của từ &ldquo;s&ocirc;ng&rdquo; trong tiếng Việt hiện đại, t&aacute;c giả đ&atilde; khẳng định được vai tr&ograve; tham gia như l&agrave; một th&agrave;nh tố cấu th&agrave;nh kh&aacute; nhiều t&ecirc;n s&ocirc;ng ở Việt Nam, thậm ch&iacute; mối li&ecirc;n hệ giữa t&ecirc;n c&aacute;c d&ograve;ng s&ocirc;ng đ&atilde; vượt ra khỏi l&atilde;nh thổ bi&ecirc;n giới Việt Nam h&agrave;nh ch&iacute;nh m&agrave; bao gồm cả một v&ugrave;ng văn h&oacute;a rộng lớn nằm giữa s&ocirc;ng Trường Giang của Trung Quốc v&agrave; s&ocirc;ng Saluen của Myanmar. Song b&agrave;i viết kh&ocirc;ng đơn giản chỉ dừng lại như tựa đề để giới hạn phạm vi khảo s&aacute;t t&ecirc;n s&ocirc;ng của khu vực Đ&ocirc;ng Nam &Aacute; m&agrave; c&ograve;n qua đ&oacute; để tr&igrave;nh b&agrave;y một số vấn đề cơ sở trong nghi&ecirc;n cứu địa danh học. Ngay từ rất sớm, B&agrave; đ&atilde; cố gắng tho&aacute;t ra khỏi khuynh hướng giải th&iacute;ch địa danh theo kiểu địa phương ch&iacute;, từ nguy&ecirc;n học d&acirc;n gian m&agrave; tiếp cận địa danh học từ phương ph&aacute;p ng&ocirc;n ngữ học lịch sử. Phải chăng những vấn đề l&yacute; luận v&agrave; phương ph&aacute;p n&agrave;y ch&iacute;nh l&agrave; cơ sở cho những nghi&ecirc;n cứu tiếp sau của B&agrave; theo hướng lịch đại, chẳng hạn như t&igrave;m hiểu <em>Từ nguy&ecirc;n của t&ecirc;n s&ocirc;ng Bạch Đằng</em> (1995), <em>T&igrave;m hiểu từ nguy&ecirc;n những từ chỉ c&aacute;c phương tiện vận chuyển đường thủy</em> (2013). Song Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u kh&ocirc;ng phải l&agrave; một nh&agrave; khoa học ưa th&iacute;ch d&ugrave;ng những thuật ngữ h&agrave;n l&acirc;m kinh viện. Sau những ph&aacute;c họa quan trọng về đường hướng nghi&ecirc;n cứu địa danh học, B&agrave; lại ch&uacute; t&acirc;m tới một vấn đề nghi&ecirc;n cứu cấp thiết trong đời sống hiện đại &ndash; Chuẩn h&oacute;a địa danh. Đ&oacute; l&agrave; b&agrave;i viết mang t&iacute;nh kh&aacute;i lược vấn đề như <em>Địa danh nước ngo&agrave;i tr&ecirc;n bản đồ thế giới: kh&aacute;i niệm, thuật ngữ v&agrave; phương thức nhập nội địa danh</em> (2007); b&agrave;i viết tổng quan để x&aacute;c lập giải ph&aacute;p như <em>Tiến tới chuẩn h&oacute;a c&aacute;ch viết địa danh c&aacute;c v&ugrave;ng d&acirc;n tộc thiểu số ở Việt Nam </em>(2004) cho tới b&agrave;i viết mang t&iacute;nh &ldquo;kỹ thuật&rdquo; trong ch&iacute;nh tả như l&yacute; giải sự hạn chế của bảng chữ c&aacute;i quốc ngữ đối với sự phong ph&uacute; của c&aacute;c địa danh <em>Địa danh T&acirc;y Nguy&ecirc;n tr&ecirc;n bản đồ: Chiếc cầu nối giữa địa danh Việt Nam v&agrave; thế giới</em> (1994), để từ đ&oacute; x&aacute;c định <em>Vai tr&ograve; của F,J,W,Z đối với việc phi&ecirc;n chuyển địa danh nước ngo&agrave;i</em> (2007). Dường như quan điểm giữ nguy&ecirc;n ngữ l&agrave; nhất qu&aacute;n để trở th&agrave;nh nội dung xuy&ecirc;n suốt trong những b&agrave;i viết của B&agrave; li&ecirc;n quan đến vấn đề chuẩn h&oacute;a địa danh ở nước ta. Song kh&ocirc;ng phải v&igrave; vậy m&agrave; những b&agrave;i viết l&agrave; sự lặp lại nh&agrave;m ch&aacute;n, mỗi b&agrave;i viết thực lại l&agrave; nơi của những ph&aacute;t kiến l&oacute;e s&aacute;ng. Ở b&agrave;i viết <em>Đặc điểm c&aacute;ch ghi địa danh v&ugrave;ng T&acirc;y Nguy&ecirc;n tr&ecirc;n một số bản đồ địa h&igrave;nh</em> (1992), B&agrave; gi&uacute;p ch&uacute;ng ta hiểu r&otilde; r&agrave;ng rằng, địa danh v&ugrave;ng T&acirc;y Nguy&ecirc;n tr&ecirc;n c&aacute;c bản đồ Ph&aacute;p ho&agrave;n to&agrave;n kh&ocirc;ng phải l&agrave; chữ Ph&aacute;p như trước đ&acirc;y học giới lầm tưởng, m&agrave; đ&oacute; l&agrave; bộ chữ c&aacute;c d&acirc;n tộc ở T&acirc;y Nguy&ecirc;n (bộ chữ được s&aacute;ng lập từ cuối thế kỷ XIX &ndash; đầu thế kỷ XX tr&ecirc;n cơ sở bộ chữ quốc ngữ c&oacute; bổ sung v&agrave; cải tiến). V&agrave; bộ chữ ấy được x&aacute;c định kỹ lưỡng hơn như l&agrave; một bộ phận của tiến tr&igrave;nh m&atilde; h&oacute;a địa danh ở Việt Nam được B&agrave; tr&igrave;nh b&agrave;y ở b&agrave;i viết <em>Qu&aacute; tr&igrave;nh m&atilde; h&oacute;a địa danh ng&agrave;y xưa v&agrave; chuẩn h&oacute;a c&aacute;ch viết địa danh tiếng d&acirc;n tộc thiểu số ng&agrave;y nay</em> (2002/2003). Tất cả những suy tư ấy, từ những b&agrave;i viết d&agrave;i tr&igrave;nh b&agrave;y những lập luận khoa học chặt chẽ cho tới những b&agrave;i b&aacute;o ngắn thậm ch&iacute; chỉ như l&agrave; một &ldquo;lời k&ecirc;u gọi&rdquo; d&ugrave;ng đ&uacute;ng nguy&ecirc;n ngữ khi viết t&ecirc;n hai d&ograve;ng s&ocirc;ng nổi tiếng Đ&ocirc;nau (Đa-nu&yacute;p) v&agrave; Đ&ocirc;n (Đ&ocirc;ng) trong <em>H&atilde;y trả lại t&ecirc;n cho c&aacute;c d&ograve;ng s&ocirc;ng</em> (2006), ch&uacute;ng ta đều c&oacute; thể thấy một cố gắng bền bỉ đem ứng dụng những tri thức ng&ocirc;n ngữ học phục vụ đời sống m&agrave; cụ thể v&agrave; trước nhất l&agrave; l&agrave;m bản đồ, rồi tiếp theo l&agrave; hướng tới thống nhất trong to&agrave;n x&atilde; hội.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
	<span style="font-size:14px;">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 2. Nếu Địa danh học l&agrave; bước khởi đầu cho sự nghiệp nghi&ecirc;n cứu ng&ocirc;n ngữ học th&igrave; Phương ngữ học lại l&agrave; hướng nghi&ecirc;n cứu khiến nhiều người biết tới Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u như l&agrave; chuy&ecirc;n gia đầu ng&agrave;nh ở nước ta trong suốt nhiều năm qua. Nghi&ecirc;n cứu về tiếng n&oacute;i ở c&aacute;c v&ugrave;ng miền tr&ecirc;n dải đất b&eacute; nhỏ n&agrave;y trước B&agrave; đ&atilde; c&oacute; L. Cardi&egrave;re, H. Masp&eacute;ro, M.V. Gordina v&agrave; L.S. Bystrov, đ&atilde; c&oacute; Phan Kế B&iacute;nh, Nguyễn Bạt Tụy v&agrave; tiếp đ&oacute; đ&atilde; c&oacute; Ho&agrave;ng Ph&ecirc;. Nhưng phải tới năm 1989, khi <em>Tiếng Việt tr&ecirc;n c&aacute;c miền đất nước</em> (Nxb Khoa học x&atilde; hội 1989, 284 tr.) của Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u ra đời, ph&acirc;n ng&agrave;nh Phương ngữ học mới ch&iacute;nh thức được biết tới s&acirc;u rộng trong Việt ngữ học. Cuốn s&aacute;ch đ&atilde; vượt qua giới hạn của một gi&aacute;o tr&igrave;nh dẫn nhập giới thiệu về một ph&acirc;n m&ocirc;n của Ng&ocirc;n ngữ học hiện đại chuy&ecirc;n nghi&ecirc;n cứu về tiếng địa phương của c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ với việc x&aacute;c định đối tượng nghi&ecirc;n cứu, kh&aacute;i qu&aacute;t bản chất, giới thiệu c&aacute;c phương ph&aacute;p, thủ ph&aacute;p v&agrave; cung cấp những kh&aacute;i niệm cơ bản của ph&acirc;n ng&agrave;nh, v.v. để trở th&agrave;nh một chuy&ecirc;n khảo nghi&ecirc;n cứu về c&aacute;c phương ngữ của tiếng Việt. C&oacute; thể kh&ocirc;ng kh&oacute; khăn, khi nhận ra rằng cuốn s&aacute;ch l&agrave; kết tinh của những trăn trở suy tư trong hơn 30 năm quan t&acirc;m tới địa hạt nghi&ecirc;n cứu n&agrave;y từ những b&agrave;i viết giới thiệu về phương ngữ th&ocirc;ng qua một b&igrave;nh diện dễ nhận thấy nhất l&agrave; từ địa phương <em>V&agrave;i nhận x&eacute;t về qu&aacute; tr&igrave;nh ti&ecirc;u chuẩn h&oacute;a tiếng Việt thể hiện qua c&aacute;ch d&ugrave;ng từ địa phương trong s&aacute;ch vở, b&aacute;o ch&iacute; trước v&agrave; sau C&aacute;ch mạng th&aacute;ng T&aacute;m </em>(1970), đến những b&agrave;i viết mang t&iacute;nh chuy&ecirc;n m&ocirc;n hơn nhằm giới thiệu kh&aacute;i niệm như <em>Thổ ngữ v&agrave; l&agrave;ng x&atilde; Việt Nam</em> (1978) hay định h&igrave;nh, ph&acirc;n biệt kh&aacute;i niệm như <em>So&aacute;t lại c&aacute;ch nhận thức một số kh&aacute;i niệm ng&ocirc;n ngữ học</em> (1979), cho tới những b&agrave;i viết nghi&ecirc;n cứu đặc điểm của một số phương ngữ như <em>V&agrave;i n&eacute;t về sự thay đổi ngữ &acirc;m tiếng Việt trong n&ocirc;ng th&ocirc;n hiện nay (qua kết quả điều tra thổ ngữ ở Vĩnh Linh v&agrave; Th&aacute;i B&igrave;nh)</em> (1972), <em>Về bốn phụ &acirc;m ngạc h&oacute;a c&ograve;n lại trong tiếng Việt v&ugrave;ng bắc B&igrave;nh Trị Thi&ecirc;n</em>(1988). &nbsp;Thực như t&ecirc;n cuốn s&aacute;ch trong lần xuất bản đầu ti&ecirc;n ấy, tiếng Việt tr&ecirc;n mọi miền của Tổ Quốc được m&ocirc; tả một c&aacute;ch hệ thống v&agrave; chuẩn x&aacute;c. Nhưng Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u kh&ocirc;ng m&ocirc; tả chỉ v&igrave; để m&ocirc; tả. B&agrave; đ&atilde; rất khoa học khi ph&acirc;n v&ugrave;ng ba phương ngữ Bắc &ndash; Trung &ndash; Nam với hai v&ugrave;ng đệm chuyển tiếp l&agrave; Thanh H&oacute;a v&agrave; Thừa Thi&ecirc;n - Huế để rồi đi tới kết luận phương ngữ Trung l&agrave; cổ hơn cả, phương ngữ Bắc l&agrave; một bước hiện đại h&oacute;a của phương ngữ Trung&nbsp; v&agrave; sau c&ugrave;ng phương ngữ Nam được x&acirc;y dựng tr&ecirc;n nền phương ngữ Bắc c&oacute; hỗn dung với tiếng H&aacute;n, tiếng Khmer v&agrave; tiếng Chăm. B&agrave; đ&atilde; thật tinh tế khi nh&igrave;n sự kh&aacute;c nhau của tiếng Việt tr&ecirc;n c&aacute;c v&ugrave;ng miền kh&ocirc;ng gian địa l&yacute; để thấy sự biến đổi của tiếng Việt trong thời gian lịch sử. Với tầm nh&igrave;n rộng v&agrave; s&acirc;u n&agrave;y, B&agrave; đ&atilde; g&oacute;p cho Việt ngữ học một hướng đi mới m&agrave; trước B&agrave; chưa c&oacute; định h&igrave;nh v&agrave; c&oacute; lẽ sau B&agrave; liệu chắc c&oacute; ai? Tưởng chừng sau mấy chục năm bền bỉ m&agrave; đắm say để tới ng&agrave;y những nền m&oacute;ng đầu ti&ecirc;n của một ph&acirc;n ng&agrave;nh mới được x&acirc;y dựng đ&atilde; l&agrave; l&uacute;c B&agrave; c&oacute; thể nghỉ ngơi nhưng dường như tr&aacute;i tim y&ecirc;u tiếng Việt ấy th&ocirc;i th&uacute;c để khối &oacute;c mẫn tiệp kia kh&ocirc;ng ngơi nghỉ. Sau sự &ldquo;khai sinh&rdquo; của ng&agrave;nh phương ngữ học, B&agrave; tiếp tục c&ocirc;ng việc cung cấp tri thức kh&aacute;i qu&aacute;t về ph&acirc;n ng&agrave;nh n&agrave;y bằng những b&agrave;i viết mang t&iacute;nh chất tổng lược. B&agrave; tr&igrave;nh b&agrave;y <em>Ng&agrave;nh Phương ngữ học Việt Nam h&ocirc;m qua v&agrave; h&ocirc;m nay</em> (1991) để tổng kết hội nghị Phương ngữ tiếng Việt tổ chức v&agrave;o th&aacute;ng 6/1989 tại khoa Ngữ văn &ndash; Đại học Tổng hợp H&agrave; Nội v&agrave; giới thiệu c&ocirc;ng tr&igrave;nh Tiếng Việt tr&ecirc;n c&aacute;c miền đất nước bấy giờ vừa được xuất bản &ndash; hai sự kiện c&oacute; vị tr&iacute; đặc biệt tr&ecirc;n tiến tr&igrave;nh ph&aacute;t triển ng&agrave;nh phương ngữ học nước ta. B&agrave; viết <em>50 năm h&ograve;a nhập phương ngữ, thổ ngữ v&agrave;o ng&ocirc;n ngữ to&agrave;n d&acirc;n </em>(1995) để g&oacute;p một tiếng n&oacute;i chuy&ecirc;n m&ocirc;n v&agrave;o c&ocirc;ng cuộc chuẩn h&oacute;a tiếng Việt. V&agrave; ở đ&acirc;u đ&oacute;, những b&agrave;i viết về những đặc trưng trong tiếng n&oacute;i của một địa phương n&agrave;o đ&oacute; lại được B&agrave; nghi&ecirc;n cứu v&agrave; c&ocirc;ng bố. <em>Về một ng&ocirc;n ngữ lai (lingua-franca) ở Hội An &ndash; Đ&agrave; Nẵng v&agrave;o thế kỷ XVIII</em> (1991) đ&atilde; gi&uacute;p ch&uacute;ng ta hiểu hơn về một đặc trưng ng&ocirc;n ngữ của v&ugrave;ng đất thương cảng, vốn l&agrave; nơi giao lưu của tiếng Việt v&agrave; nhiều ngoại ngữ trong qu&aacute; khứ. <em>Sự h&igrave;nh th&agrave;nh một phương ngữ ngo&agrave;i l&atilde;nh thổ quốc gia </em>(2000) lại giới thiệu về một hiện tượng rất đặc biệt của những người d&acirc;n Kinh tộc tại Đ&ocirc;ng Hưng (Quảng T&acirc;y, Trung Quốc) đ&atilde; giữ g&igrave;n v&agrave; ph&aacute;t triển tiếng n&oacute;i của tổ ti&ecirc;n Việt sau gần năm thế kỷ tha hương. Đặc biệt, với xứ Huế qu&ecirc; hương, B&agrave; đ&atilde; d&agrave;nh nhiều t&acirc;m huyết với bản b&aacute;o c&aacute;o <em>Tiếng Huế thuộc v&ugrave;ng phương ngữ n&agrave;o?</em> trong Hội thảo khoa học Tiếng Huế - Người Huế - Văn h&oacute;a Huế (tổ chức v&agrave;o dịp Festival Huế 2004). Chỉ với khoảng 6 trang giấy, b&agrave;i viết đ&atilde; cố gắng th&ocirc;ng qua những ph&aacute;c họa diễn tr&igrave;nh lịch sử ph&aacute;t triển của tiếng Huế m&agrave; x&aacute;c định được những đặc điểm cơ bản, &nbsp;để minh chứng cho kết luận về vị tr&iacute; bước đệm, v&ugrave;ng chuyển tiếp giữa phương ngữ Trung v&agrave; phương ngữ Nam đ&atilde; được đề cập tới trước đ&oacute; 15 năm trong Tiếng Việt tr&ecirc;n c&aacute;c miền đất nước. Cuốn s&aacute;ch, kh&ocirc;ng đơn thuần chỉ l&agrave; một c&ocirc;ng tr&igrave;nh tổng kết những nghi&ecirc;n cứu đ&atilde; được đ&agrave;o s&acirc;u trong hơn 30 năm của t&aacute;c giả. Vẫn c&ograve;n rất nhiều miền đất nước giữ g&igrave;n những đặc trưng ri&ecirc;ng c&oacute; trong tiếng n&oacute;i, ở đ&acirc;u đ&oacute; b&ecirc;n dưới những trang giấy trắng tinh của những lần t&aacute;i bản c&ograve;n l&agrave; những gợi mở v&agrave; cả những hi vọng chờ mong d&agrave;nh cho những người đi sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
	<span style="font-size:14px;">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 3. Khi nh&igrave;n v&agrave;o thời điểm c&ocirc;ng bố của danh mục c&ocirc;ng tr&igrave;nh khoa học, rất c&oacute; thể sẽ c&oacute; suy nghĩ cho rằng việc nghi&ecirc;n cứu Ng&ocirc;n ngữ c&aacute;c d&acirc;n tộc thiểu số của Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u l&agrave; một hướng đi phụ, chợt đến trong qu&aacute; tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu về địa danh cũng như tr&ecirc;n những chặng đường điền d&atilde; t&igrave;m hiểu phương ngữ. Thực tế đ&ocirc;i khi lại kh&ocirc;ng như những g&igrave; ch&uacute;ng ta vốn thấy v&agrave; c&oacute; thể suy luận theo lối th&ocirc;ng thường. C&oacute; ai ngờ rằng một c&ocirc; nữ sinh Đồng Kh&aacute;nh lại l&agrave; một chiến sĩ c&aacute;ch mạng ki&ecirc;n trung để đến nỗi trước lần bị bắt thứ ba đ&atilde; được Tổ chức gấp r&uacute;t chuyển ra Bắc rồi cử đi học ở Li&ecirc;n X&ocirc;. Những th&aacute;ng ng&agrave;y học tập ở Đại học Lomonosov danh tiếng l&agrave; những ng&agrave;y th&aacute;ng B&agrave; mang nhiều suy nghĩ. Những người bạn Nga, rồi đ&acirc;y sẽ trở th&agrave;nh những c&ocirc; gi&aacute;o dạy ng&ocirc;n ngữ v&agrave; văn học Nga tại c&aacute;c trường phổ th&ocirc;ng. C&ograve;n B&agrave;, B&agrave; sẽ l&agrave;m g&igrave;? Việt Nam l&agrave; một quốc gia đa d&acirc;n tộc v&agrave; c&ograve;n biết bao nhi&ecirc;u d&acirc;n tộc thiểu số chưa được biết tới. B&agrave; hiểu tr&aacute;ch nhiệm của m&igrave;nh l&agrave; t&igrave;m hiểu ng&ocirc;n ngữ của c&aacute;c d&acirc;n tộc thiểu số ở Việt Nam để gi&uacute;p họ bảo tồn văn h&oacute;a của ch&iacute;nh họ. Phải chăng, v&igrave; mục ti&ecirc;u ban đầu ấy m&agrave; sau n&agrave;y B&agrave; dần cụ thể h&oacute;a từng bước để cuối c&ugrave;ng hướng tới việc x&acirc;y dựng bộ chữ viết hữu dụng cho c&aacute;c d&acirc;n tộc thiểu số ở nước ta. X&aacute;c định cho m&igrave;nh được định hướng nghi&ecirc;n cứu, B&agrave; đắm m&igrave;nh trong m&ocirc;i trường học tập h&agrave;n l&acirc;m m&agrave; s&ocirc;i nổi, trong kh&ocirc;ng kh&iacute; nghi&ecirc;n cứu cơ bản m&agrave; chuy&ecirc;n s&acirc;u của một trong những cơ sở khoa học h&agrave;ng đầu thế giới thời bấy giờ. B&agrave; nghi&ecirc;m t&uacute;c lắng nghe những b&agrave;i giảng về tiếng Hy Lạp cổ, tiếng La tinh cổ, tiếng Slav cổ v&agrave; mối quan hệ họ h&agrave;ng &ldquo;chằng chịt&rdquo; của ch&uacute;ng, rồi miệt m&agrave;i k&yacute; &acirc;m những ng&ocirc;n ngữ xa lạ thuộc cả ba nh&aacute;nh Đ&ocirc;ng, T&acirc;y v&agrave; Nam của tiếng Slav. Đều đều h&agrave;ng tuần lại thấy b&oacute;ng d&aacute;ng của một nữ sinh vi&ecirc;n gốc &Aacute; sải bước qua s&acirc;n rộng để sang Viện Phương Đ&ocirc;ng tham gia những buổi học về tiếng Th&aacute;i, tiếng Miến. Thậm ch&iacute;, kh&ocirc;ng đủ thời gian l&ecirc;n lớp, B&agrave; c&ograve;n được một người bạn Nga, m&agrave; sau n&agrave;y cũng trở th&agrave;nh một nh&agrave; Việt ngữ học khả k&iacute;nh &ndash; Gs Lekomtsev, đi học hộ rồi giảng lại từng b&agrave;i về tiếng Indonesia. C&aacute;c b&agrave;i giảng về c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ từ đ&ocirc;ng sang t&acirc;y ấy đ&atilde; chuẩn bị cho B&agrave; những h&agrave;nh trang cả về l&yacute; luận lẫn phương ph&aacute;p để đi v&agrave;o nghi&ecirc;n cứu ng&ocirc;n ngữ c&aacute;c d&acirc;n tộc thiểu số Việt Nam sau n&agrave;y. Kh&aacute;c với những đồng nghiệp của m&igrave;nh, chỉ ch&uacute; t&acirc;m đi điền d&atilde; để c&oacute; những kết quả m&ocirc; tả từng ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc thiểu số một, Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u c&oacute; một c&aacute;i nh&igrave;n kh&aacute;i qu&aacute;t hơn. Xuất ph&aacute;t việc ph&acirc;n t&iacute;ch khoảng 40 hệ thống ngữ &acirc;m của c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc thiểu số đ&atilde; được khảo s&aacute;t v&agrave; mi&ecirc;u tả (bởi c&aacute;c nh&agrave; ng&ocirc;n ngữ học trong v&agrave; ngo&agrave;i nước), Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u đ&atilde; so s&aacute;nh để ph&acirc;n loại <em>C&aacute;c loại h&igrave;nh ngữ &acirc;m của c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ ở Việt Nam </em>(1997). Căn cứ v&agrave;o hệ thống ngữ &acirc;m với những đơn vị si&ecirc;u đoạn t&iacute;nh (thanh điệu), đoạn t&iacute;nh (nguy&ecirc;n &acirc;m, b&aacute;n nguy&ecirc;n &acirc;m, phụ &acirc;m đầu, phụ &acirc;m cuối), B&agrave; đ&atilde; ph&acirc;n chia loại h&igrave;nh c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc thiểu số v&agrave;o những hệ thống khu biệt nhau: thanh điệu/ ph&aacute;t sinh thanh điệu, nguy&ecirc;n &acirc;m cơ bản/ nguy&ecirc;n &acirc;m &ldquo;lưỡng ph&acirc;n&rdquo; (t&aacute;c giả d&ugrave;ng l&agrave; &ldquo;lưỡng ph&acirc;n&rdquo; song t&ocirc;i nghĩ n&ecirc;n d&ugrave;ng l&agrave; &ldquo;ph&acirc;n chia&rdquo;), phụ &acirc;m đầu cơ bản/ phụ &acirc;m đầu phức hợp, phụ &acirc;m cuối gồm hai d&atilde;y/ phụ &acirc;m cuối gồm một hệ thống/ phụ &acirc;m cuối chỉ c&oacute; một, hai đơn vị. C&oacute; thể n&oacute;i rằng, việc x&aacute;c định loại h&igrave;nh c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ dựa v&agrave;o ngữ &acirc;m đ&atilde; cung cấp cho ch&uacute;ng ta một cẩm nang t&oacute;m tắt về c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc thiểu số ở Việt Nam. Bởi suy cho c&ugrave;ng, nghi&ecirc;n cứu ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc thiểu số điều quan yếu nhất l&agrave; mi&ecirc;u tả nhưng phải l&agrave; mi&ecirc;u tả trong mối tương li&ecirc;n giữa c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ để thấy sự khu biệt m&agrave; sử dụng. Sự khu biệt trong mối tương li&ecirc;n được thể hiện trong c&aacute;ch ph&acirc;n loại của Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u l&agrave; ho&agrave;n to&agrave;n tiết kiệm. B&agrave; đ&atilde; nối kết tất cả c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ của Việt Nam lại trong c&aacute;i khung lớn với những vị tr&iacute; cố định cho từng ng&ocirc;n ngữ. Nếu loại h&igrave;nh học ng&ocirc;n ngữ x&aacute;c định nhiệm vụ l&agrave; ph&acirc;n loại c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ kh&aacute;c nhau theo bản chất của từng ng&ocirc;n ngữ th&igrave; b&agrave;i viết n&agrave;y đ&atilde; ho&agrave;n th&agrave;nh xuất sắc nhiệm vụ bậc nhất của ph&acirc;n ng&agrave;nh n&agrave;y. Song Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u l&agrave; con người lu&ocirc;n muốn x&oacute;a nh&ograve;a đi kh&aacute;i niệm m&agrave;u x&aacute;m để l&yacute; thuyết cũng m&atilde;i m&atilde;i xanh tươi. B&agrave; ph&acirc;n loại loại h&igrave;nh c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ ở Việt Nam để hướng tới việc x&acirc;y dựng bộ chữ cho c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc thiểu số. Từ khoảng cuối những năm 80, B&agrave; suy nghĩ nhiều tới ch&iacute;nh s&aacute;ch ng&ocirc;n ngữ ở Việt Nam bấy giờ v&agrave; ph&acirc;n t&iacute;ch việc thực hiện đ&atilde; hiệu quả v&agrave; cần bổ khuyết những g&igrave; từ hướng tiếp cận của một người nghi&ecirc;n cứu ng&ocirc;n ngữ học <em>V&agrave;i suy nghĩ về ch&iacute;nh s&aacute;ch ng&ocirc;n ngữ ở Việt Nam v&agrave; việc thực hiện ch&iacute;nh s&aacute;ch đ&oacute; </em>(1988). B&agrave; trăn trở <em>&nbsp;Tại sao đến nay c&ograve;n nhiều d&acirc;n tộc chưa c&oacute; chữ </em>(1992), để từ đ&oacute; ph&acirc;n t&iacute;ch vai tr&ograve; của chữ viết đối với đời sống x&atilde; hội của cư d&acirc;n <em>Về việc đặt v&agrave; đưa chữ viết c&aacute;c d&acirc;n tộc thiểu số v&agrave;o đời sống c&aacute;c cư d&acirc;n miền n&uacute;i nước ta </em>(1993). V&agrave; B&agrave; đ&atilde; bắt tay v&agrave;o nghi&ecirc;n cứu để x&acirc;y dựng bộ chữ cho c&aacute;c d&acirc;n tộc thiểu số Việt Nam bằng một lời khẳng định về đường hướng tiếp cận v&agrave; giải quyết nan đề n&agrave;y <em>C&oacute; thể x&acirc;y dựng một bộ chữ viết chung cho nhiều d&acirc;n tộc </em>(1993). C&otilde; lẽ đồng quan điểm với một vị triết gia T&acirc;y phương hiện đại chủ trương &ldquo;Nhỏ l&agrave; đẹp&rdquo;, Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u cũng hướng về những điều giản dị nhất c&oacute; thể - một bộ chữ chung đơn giản, tiết kiệm c&oacute; lẽ lại đi liền với khoa học. Tr&ecirc;n cơ sở những nghi&ecirc;n cứu để ph&acirc;n chia loại h&igrave;nh c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ ở Việt Nam, B&agrave; xuất bản một c&ocirc;ng tr&igrave;nh d&agrave;y dặn với tựa đề <em>X&acirc;y dựng bộ chữ phi&ecirc;n &acirc;m cho c&aacute;c d&acirc;n tộc thiểu số ở Việt Nam</em> (Nxb Văn h&oacute;a d&acirc;n tộc 2001, 233tr.). Chuy&ecirc;n khảo n&agrave;y c&oacute; thể được h&igrave;nh dung như những tổng kết quan trọng của t&aacute;c giả về đặc điểm ngữ &acirc;m nhằm hướng tới phổ biến bộ chữ phi&ecirc;n &acirc;m cho c&aacute;c d&acirc;n tộc thiểu số nước ta. B&agrave; chủ trương x&aacute;c định một hệ thống k&yacute; hiệu phụ bổ sung v&agrave;o những chữ c&aacute;i cơ bản để c&oacute; một hệ thống chữ viết phong ph&uacute;, c&oacute; thể đ&aacute;p ứng nhu cầu ghi &acirc;m của nhiều ng&ocirc;n ngữ kh&aacute;c nhau. Tầm quan trọng của bộ chữ n&agrave;y đối với c&ocirc;ng cuộc bảo tồn v&agrave; ph&aacute;t huy gi&aacute; trị văn h&oacute;a của c&aacute;c d&acirc;n tộc l&agrave; điều kh&ocirc;ng c&ograve;n phải b&agrave;n c&atilde;i song việc đem ch&uacute;ng v&agrave;o cuộc sống lại l&agrave; một c&acirc;u chuyện d&agrave;i khiến một người nặng l&ograve;ng như B&agrave; năm 2004 lại c&oacute; một tham luận gửi Hội nghị Ng&ocirc;n ngữ học li&ecirc;n &Aacute; lần VI với nhan đề <em>T&igrave;nh h&igrave;nh v&agrave; ch&iacute;nh s&aacute;ch x&acirc;y dựng v&agrave; phổ cập chữ viết c&aacute;c d&acirc;n tộc thiếu số hiện nay</em> (2005). B&agrave;i viết n&agrave;y cung cấp những tổng kết mang tầm kh&aacute;i qu&aacute;t h&oacute;a về t&igrave;nh h&igrave;nh chữ viết cho c&aacute;c d&acirc;n tộc thiểu số cũng như những kiến nghị giải ph&aacute;p mang tầm vĩ m&ocirc; của ch&iacute;nh s&aacute;ch ng&ocirc;n ngữ. Dường như ở người phụ nữ ấy lu&ocirc;n c&oacute; một c&aacute;i nh&igrave;n tho&aacute;t khỏi những chật chội của lối tư duy &ldquo;chẻ sợ t&oacute;c l&agrave;m tư, l&agrave;m t&aacute;m&rdquo; m&agrave; rộng lớn, kho&aacute;ng đạt trong mọi vấn đề, mọi lĩnh vực. Tuy nhi&ecirc;n kh&ocirc;ng phải v&igrave; vậy m&agrave; Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u chối bỏ việc nghi&ecirc;n cứu những đặc trưng của ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc thiểu số cụ thể. V&iacute; dụ như tiếng Chăm/ Ch&agrave;m, B&agrave; đ&atilde; d&agrave;nh rất nhiều c&ocirc;ng sức để t&igrave;m hiểu sự h&igrave;nh th&agrave;nh hệ thống thanh điệu của tiếng Chăm. Kết quả l&agrave; b&aacute;o c&aacute;o <em>Qu&aacute; tr&igrave;nh đơn tiết h&oacute;a v&agrave; h&igrave;nh th&agrave;nh thanh điệu trong tiếng Chăm</em> (1976, tiếng Nga) m&agrave; B&agrave; tr&igrave;nh b&agrave;y tại hội thảo khoa học quốc tế về c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ c&oacute; thanh điệu ở Leipzig v&agrave; hơn 10 năm sau Vietnamese Studies đ&atilde; dịch v&agrave; in lại (1989). B&agrave; quan s&aacute;t v&agrave; ph&acirc;n t&iacute;ch tiếng Chăm trong sự li&ecirc;n tưởng với tiếng Việt. Qu&aacute; tr&igrave;nh h&igrave;nh th&agrave;nh thanh điệu tiếng Việt đ&atilde; được A.G. Haudricourt chứng minh từ năm 1954, nhưng sự chứng minh đ&oacute; ho&agrave;n to&agrave;n tr&ecirc;n phương diện l&yacute; thuyết bởi thực tế sự ph&aacute;t triển thanh điệu của tiếng Việt l&agrave; c&acirc;u chuyện của qu&aacute; khứ. C&ograve;n thanh điệu tiếng Chăm lại đang h&igrave;nh th&agrave;nh trước mắt ta. Trong thế kỷ XX, tiếng Chăm đ&atilde; chuyển từ một ng&ocirc;n ngữ đa tiết kh&ocirc;ng thanh điệu trở th&agrave;nh một ng&ocirc;n ngữ đơn tiết c&oacute; thanh điệu. Sau nhiều năm suy tư v&agrave; thu thập th&ecirc;m ngữ liệu, B&agrave; viết <em>Hệ thống thanh điệu tiếng Ch&agrave;m v&agrave; c&aacute;ch k&yacute; hiệu </em>(1986) kh&ocirc;ng chỉ để khẳng định về sự tồn tại hệ thống thanh điệu, m&agrave; c&ograve;n đề xuất c&aacute;ch k&yacute; hiệu những thanh điệu ấy trong văn bản. V&agrave; gần đ&acirc;y, khi thập kỷ thứ nhất của thế kỷ XXI đ&atilde; qua, B&agrave; lại h&agrave;o hứng khi được sẻ chia những suy nghĩ của m&igrave;nh với một học tr&ograve; đang d&ugrave;ng ngữ &acirc;m học thực nghiệm để nghi&ecirc;n cứu tiếng Chăm. Dường như, định hướng nghi&ecirc;n cứu ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc thiểu số của c&ocirc; sinh vi&ecirc;n Đại học Lomonosov năm n&agrave;o từ l&acirc;u vẫn &acirc;m thầm bền bỉ nay c&agrave;ng dạt d&agrave;o hơn với vai tr&ograve; của một người truyền lửa.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
	<span style="font-size:14px;">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 4. Thực vậy, suốt mấy chục năm li&ecirc;n tục, từ những b&agrave;i giảng của Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u m&agrave; biết bao sinh vi&ecirc;n khoa Ngữ văn &ndash; Đại học Tổng hợp H&agrave; Nội xưa (nay l&agrave; hai khoa Ng&ocirc;n ngữ học v&agrave; Văn học &ndash; Đại học Khoa học X&atilde; hội &amp; Nh&acirc;n văn) đ&atilde; trưởng th&agrave;nh, đ&atilde; lập th&acirc;n v&agrave; lập nghiệp. Suốt cuộc đời n&agrave;y, B&agrave; vẫn m&atilde;i l&agrave; c&ocirc; Ch&acirc;u k&iacute;nh y&ecirc;u của lớp lớp thế hệ học tr&ograve;, thậm ch&iacute; cả những học tr&ograve; kh&ocirc;ng phải người Việt Nam. Mới đ&acirc;y, trong một dịp kỷ niệm, GS Shimizu của Đại học Osaka (Nhật Bản) đ&atilde; c&oacute; những ho&agrave;i niệm tuyệt đẹp về c&ocirc; gi&aacute;o Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u của &ocirc;ng: &ldquo;&hellip;Thực ra l&uacute;c đ&oacute; t&ocirc;i cảm thấy như m&igrave;nh đang được ẵm trong v&ograve;ng tay ấm &aacute;p của người mẹ&hellip;&rdquo;. Từ những am tường về ng&ocirc;n ngữ học, về tiếng Việt m&agrave; Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u đ&atilde; trở th&agrave;nh một trong những chuy&ecirc;n gia đầu ti&ecirc;n ở Việt Nam đi dạy tiếng Việt ở nước ngo&agrave;i. Đ&oacute; l&agrave; may mắn hay đ&oacute; l&agrave; những nỗ lực kh&ocirc;ng mệt mỏi của B&agrave;? Những b&aacute;o c&aacute;o khoa học được c&ocirc;ng bố sau những ng&agrave;y th&aacute;ng giảng dạy ở nước ngo&agrave;i c&oacute; lẽ ch&iacute;nh l&agrave; c&acirc;u trả lời đầy đủ nhất. Những năm th&aacute;ng l&agrave;m chuy&ecirc;n gia ở Đức, ngo&agrave;i việc bảo vệ th&agrave;nh c&ocirc;ng luận &aacute;n tiến sĩ tại Đại học Humboldt với đề t&agrave;i <em>Hệ thống ngữ &acirc;m trong c&aacute;c phương ngữ tiếng Việt</em>, B&agrave; c&ograve;n viết Gi&aacute;o tr&igrave;nh cơ sở tiếng Việt bằng tiếng Đức <em>Grundkurs Vietnamesisch</em> (1982, t&aacute;i bản 1990; 212 tr.). V&agrave; c&ograve;n cả <em>Ng&ocirc;n ngữ học ở Cộng h&ograve;a d&acirc;n chủ Đức</em> (1983) một b&aacute;o c&aacute;o khoa học mang t&iacute;nh tổng qu&aacute;t giới thiệu những th&agrave;nh tựu nghi&ecirc;n cứu về ng&ocirc;n ngữ học ở quốc gia n&agrave;y. Tổng lược l&agrave; một thể loại m&agrave; y&ecirc;u cầu ti&ecirc;n quyết phải l&agrave; thu thập t&agrave;i liệu v&agrave; nghiền ngẫm t&agrave;i liệu. C&oacute; lẽ B&agrave; đ&atilde; đọc rất nhiều để rồi với &oacute;c thực tiễn trong nghi&ecirc;n cứu khoa học, m&agrave; B&agrave; thừa nhận đầy tự h&agrave;o học được từ những người bạn đồng nghiệp Đức, những tri thức về lĩnh vực nghi&ecirc;n cứu ng&ocirc;n ngữ học tr&ecirc;n qu&ecirc; hương của K. Marx được tr&igrave;nh b&agrave;y phong ph&uacute; nhưng r&otilde; r&agrave;ng tới từng giai đoạn với những xu hướng nghi&ecirc;n cứu cũng như từng địa hạt nghi&ecirc;n cứu cụ thể. Cũng c&ugrave;ng mạch suy nghĩ ấy, sau nửa năm giảng dạy ng&ocirc;n ngữ v&agrave; văn học Việt Nam tại Đại học Bắc Kinh, B&agrave; viết <em>Việt Nam học ở Trung Quốc </em>(1998) với mục đ&iacute;ch giới thiệu những cơ sở giảng dạy v&agrave; nghi&ecirc;n cứu về Việt Nam tr&ecirc;n khắp đất nước rộng lớn n&agrave;y. Song dường như kh&ocirc;ng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu, mặc d&ugrave; chỉ ri&ecirc;ng danh mục những c&ocirc;ng tr&igrave;nh li&ecirc;n quan đến Việt Nam của c&aacute;c nh&agrave; Việt Nam học người Trung Quốc ở phần thư mục v&agrave; ch&uacute; th&iacute;ch cuối b&agrave;i đ&atilde; l&agrave; một nguồn th&ocirc;ng tin phong ph&uacute; chứ chưa kể nội dung ch&iacute;nh văn, b&agrave;i viết c&ograve;n chia sẻ những kinh nghiệm trong việc dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc. Đối với việc học tiếng Việt ở Nhật Bản, trước t&igrave;nh h&igrave;nh rất nhiều người Nhật đến Việt Nam đầu tư kinh tế v&agrave; giao lưu văn h&oacute;a những năm 90, B&agrave; tổng hợp t&agrave;i liệu để viết <em>Học tiếng Việt đang l&agrave; thời thượng ở Nhật Bản</em> (1998) như một lời dự b&aacute;o cho một tr&agrave;o lưu văn h&oacute;a rất đ&aacute;ng được quan t&acirc;m v&agrave; c&oacute; vai tr&ograve; th&uacute;c đẩy t&igrave;nh hữu nghị giữa hai nước. Với độ l&ugrave;i thời gian hơn 15 năm, ch&uacute;ng ta c&agrave;ng hiểu gi&aacute; trị của b&agrave;i viết ấy. B&ecirc;n cạnh những b&agrave;i viết mang t&iacute;nh chất giới thiệu, cung cấp th&ocirc;ng tin, Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u d&ugrave; sao vẫn l&agrave; một nh&agrave; gi&aacute;o. Bằng những kinh nghiệm trong lĩnh vực Dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, B&agrave; đ&atilde; c&oacute; những b&agrave;i nghi&ecirc;n cứu mang t&iacute;nh chất học thuật chuy&ecirc;n s&acirc;u tham dự những hội nghị về giảng dạy tiếng Việt. <em>Vấn đề ph&aacute;t &acirc;m chuẩn v&agrave; ph&aacute;t &acirc;m phương ngữ trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngo&agrave;i</em> (1996) l&agrave; một b&aacute;o c&aacute;o tr&igrave;nh b&agrave;y kh&aacute;i qu&aacute;t về t&igrave;nh h&igrave;nh ph&aacute;t &acirc;m tiếng Việt, m&agrave; B&agrave; cho rằng tất cả đều đang d&ugrave;ng phương ngữ nơi m&igrave;nh sinh ra để giao tiếp x&atilde; hội, như l&agrave; một th&aacute;ch thức đối với việc dạy người nước ngo&agrave;i học tiếng Việt. Từ việc x&aacute;c định c&aacute;ch ph&aacute;t &acirc;m chuẩn bằng tri thức ng&ocirc;n ngữ học, B&agrave; đ&atilde; đề ra c&aacute;ch khắc phục cụ thể cho những kh&oacute; khăn ấy theo hai hướng chuẩn mức độ v&agrave; chuẩn thao t&aacute;c. Vẫn lu&ocirc;n trăn trở với việc dạy ph&aacute;t &acirc;m tiếng Việt, sau 15 năm, B&agrave; viết <em>Vận dụng Ngữ &acirc;m học để dạy ph&aacute;t &acirc;m v&agrave; ch&iacute;nh tả (cho học sinh v&agrave; người nước ngo&agrave;i)</em> (2011). Ở b&agrave;i viết n&agrave;y B&agrave; đ&atilde; d&ugrave;ng những tri thức ngữ &acirc;m học như h&igrave;nh thang nguy&ecirc;n &acirc;m với sự ph&acirc;n biệt về 3 độ n&acirc;ng h&agrave;m v&agrave; 3 vị tr&iacute; của lưỡi để dạy nguy&ecirc;n &acirc;m; hay như ph&acirc;n biệt phụ &acirc;m th&agrave;nh những cặp đối lập để việc thực h&agrave;nh gh&eacute;p vần kh&ocirc;ng g&acirc;y nhầm lẫn. Đối với việc dạy thanh điệu, B&agrave; cung cấp những &ldquo;mẹo&rdquo; để c&oacute; thể gi&uacute;p trẻ nhỏ v&agrave; người nước ngo&agrave;i hiểu đ&uacute;ng v&agrave; d&ugrave;ng đ&uacute;ng 6 thanh của tiếng Việt. Ph&aacute;t &acirc;m l&agrave; một trong những b&agrave;i học ti&ecirc;n quyết khi muốn học v&agrave; muốn giỏi bất kỳ sinh ngữ n&agrave;o, chỉ với hai b&agrave;i viết lấy ngữ &acirc;m học l&agrave;m cơ sở Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u đ&atilde; c&oacute; những đ&oacute;ng g&oacute;p d&ugrave; l&agrave; giản dị nhưng thật ch&iacute;nh x&aacute;c, tỉ mỉ v&agrave; rất hữu dụng về phương ph&aacute;p dạy tiếng Việt.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
	<span style="font-size:14px;">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 5. Khoa học x&atilde; hội v&agrave; nh&acirc;n văn, hơn bất kỳ ng&agrave;nh học n&agrave;o kh&aacute;c y&ecirc;u cầu sự uy&ecirc;n b&aacute;c như một tiền đề bắt buộc. Uy&ecirc;n b&aacute;c l&agrave; s&acirc;u v&agrave; rộng. Rộng l&agrave; thể hiện phổ tri thức bao tr&ugrave;m nhiều lĩnh vực li&ecirc;n quan c&ograve;n s&acirc;u l&agrave; độ chắc chắn, thấu hiểu đến ngọn nguồn của mọi vấn đề được đề cập. Trong nền học vấn hiện đại, ch&uacute;ng ta b&agrave;n nhiều tới phương ph&aacute;p tiếp cận li&ecirc;n ng&agrave;nh. Ấy vậy chẳng luận b&agrave;n g&igrave; về phương ph&aacute;p tiếp cận h&agrave;n l&acirc;m cao si&ecirc;u đến kh&oacute; hiểu, c&aacute;ch đ&acirc;y khoảng gần nửa thế kỷ, Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u đ&atilde; c&oacute; những b&agrave;i viết kết nối ng&ocirc;n ngữ học với sử học. Trước nhất phải kể tới một b&agrave;i viết được đăng tr&ecirc;n Tạp ch&iacute; nghi&ecirc;n cứu lịch sử với vai tr&ograve; như một ph&aacute;c thảo về một hướng đi gợi mở nhiều &yacute; kiến đ&aacute;ng ch&uacute; &yacute; &ndash; <em>Về việc t&igrave;m sử liệu trong ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc </em>(1967). Trong kho ngữ liệu tiếng Việt c&oacute; rất nhiều th&agrave;nh phần bảo lưu những yếu tố cổ v&agrave; ch&iacute;nh những th&agrave;nh phần n&agrave;y l&agrave; nguồn sử liệu v&ocirc; c&ugrave;ng phong ph&uacute;. Tuy từ trước tới bấy giờ v&agrave; thậm ch&iacute; cả ng&agrave;y nay nữa, giới sử học đ&atilde; quan t&acirc;m nhiều v&agrave; tận dụng tối đa những t&agrave;i liệu ng&ocirc;n ngữ khai th&aacute;c được từ thư tịch cổ nhưng theo Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u c&ograve;n c&oacute; hai nguồn ngữ liệu đặc biệt quan trọng c&oacute; thể trở th&agrave;nh sử liệu l&agrave; tiếng địa phương v&agrave; địa danh. Sau b&agrave;i viết mang t&iacute;nh định hướng ấy, B&agrave; tập hợp ngữ liệu ng&ocirc;n ngữ để viết một ch&ugrave;m những b&agrave;i li&ecirc;n quan đến thời kỳ sơ sử để g&oacute;p phần x&oacute;a đi lớp bụi huyền thoại về nh&agrave; nước Văn Lang đầu ti&ecirc;n của lịch sử d&acirc;n tộc. Gs sử học Trần Quốc Vượng đ&atilde; đồng t&igrave;nh m&agrave; tr&iacute;ch lại c&aacute;ch l&yacute; giải của B&agrave; về từ &ldquo;phụ đạo&rdquo;<a href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/#_ftn1" name="_ftnref1" title="">[1]</a>. Với những thủ ph&aacute;p của ng&ocirc;n ngữ học so s&aacute;nh v&agrave; ngữ &acirc;m học lịch sử, Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u <em>T&igrave;m hiểu từ &ldquo;phụ đạo&rdquo; trong truyền thuyết H&ugrave;ng Vương </em>(1967) để chứng minh &ldquo;phụ đạo&rdquo; kh&ocirc;ng phải l&agrave; một từ H&aacute;n như trước đ&oacute; vẫn được quan niệm m&agrave; l&agrave; một từ Việt cổ được phi&ecirc;n &acirc;m c&oacute; mối quan hệ tương ứng với pơ tao, mơ tao, pa tao, bơ tao, pa đao, tạo, đạo của c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc thiểu số Việt Nam hiện nay về mặt ngữ &acirc;m v&agrave; c&ugrave;ng chung một &yacute; nghĩa t&ugrave; trưởng, thủ lĩnh tối cao. Tiếp theo l&agrave; những ph&acirc;n t&iacute;ch về tộc danh &ldquo;Lang&rdquo;, về t&ecirc;n x&atilde; th&ocirc;n bắt đầu bằng &ldquo;Kẻ, Cổ&rdquo; để x&aacute;c định <em>Nước Văn Lang v&agrave; cương vực của n&oacute; qua t&agrave;i liệu ng&ocirc;n ngữ học</em> (1968) l&agrave; bao gồm một phần Lưỡng Quảng v&agrave; miền Bắc nước ta hiện nay. C&ograve;n b&agrave;i viết cũng tham dự Hội nghị Nghi&ecirc;n cứu thời kỳ lịch sử H&ugrave;ng Vương năm đ&oacute; &ndash; <em>V&agrave;i n&eacute;t về tổ chức x&atilde; hội nước Văn Lang qua t&agrave;i liệu ng&ocirc;n ngữ học</em> (1968) lại cung cấp một c&aacute;i nh&igrave;n hệ thống về một c&ocirc;ng x&atilde; kiểu ch&acirc;u &Aacute; ho&agrave;n to&agrave;n biệt lập v&agrave; c&oacute; phần &ldquo;manh m&uacute;n&rdquo; giữa c&aacute;c khu vực quần cư tại Bắc bộ Việt Nam do hệ thống t&ecirc;n Kẻ v&agrave; mạng lưới thổ ngữ d&agrave;y đặc cung cấp, c&ugrave;ng với một x&atilde; hội ph&acirc;n tầng r&otilde; rệt bởi những từ xưng h&ocirc; chức vị trong truyền thuyết m&agrave; đến nay vẫn c&ograve;n tồn tại ở những d&acirc;n tộc gần ngữ hệ với tiếng Việt. Sau những suy tư về thời đại H&ugrave;ng Vương như l&agrave; những thao t&aacute;c kiểm chứng việc vận dụng ng&ocirc;n ngữ học l&yacute; giải một vấn đề lịch sử cụ thể, Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u đ&atilde; c&oacute; những tổng kết kh&aacute;i qu&aacute;t về mối quan hệ mật thiết tất yếu giữa <em>Ng&ocirc;n ngữ học v&agrave; Sử học </em>(1971).</span></p>
<p style="text-align: justify;">
	<span style="font-size:14px;">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nếu lịch sử cho ch&uacute;ng ta c&aacute;i nh&igrave;n xuy&ecirc;n suốt qu&aacute; khứ, hiện tại v&agrave; vị lai th&igrave; kh&ocirc;ng gian địa l&yacute; cung cấp một tầm nh&igrave;n bao qu&aacute;t, hay n&oacute;i một c&aacute;ch kh&aacute;c l&agrave; một phối cảnh rộng lớn trong tương t&aacute;c giữa c&aacute;c th&agrave;nh tố. Sau những đ&oacute;ng g&oacute;p về tư liệu cho sử học, Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u trở về những vấn đề của bản th&acirc;n tiếng Việt trong mối tương li&ecirc;n với ngữ hệ v&agrave; ngữ vực từ điểm nh&igrave;n của c&aacute;c chiều k&iacute;ch kh&aacute;c nhau &ndash; lịch sử v&agrave; địa l&yacute;. <em>V&agrave;i n&eacute;t về địa l&yacute; &ndash; ng&ocirc;n ngữ học ở Đ&ocirc;ng Dương </em>(1985) c&oacute; thể xem như lời tuy&ecirc;n ng&ocirc;n của B&agrave; về sự li&ecirc;n hệ mật thiết giữa ng&ocirc;n ngữ với c&aacute;c v&ugrave;ng địa l&yacute; trong chiều d&agrave;i lịch sử. Việc khảo s&aacute;t c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ ở Đ&ocirc;ng Dương cho thấy c&oacute; hai khu vực r&otilde; r&agrave;ng: một số hiện tượng chỉ gặp ở ph&iacute;a bắc (trong tiếng L&agrave;o, Th&aacute;i T&acirc;y Bắc, T&agrave;y N&ugrave;ng, Mường v&agrave; phương ngữ Bắc bộ) c&ograve;n một số hiện tượng lại chỉ xuất hiện ở phương nam (tiếng Th&aacute;i Lan v&agrave; phương ngữ Nam bộ). Kết th&uacute;c b&agrave;i viết l&agrave; một lời gợi mở &ldquo;Sự kh&aacute;c nhau đ&oacute; c&oacute; thể bắt nguồn từ cơ tầng&rdquo; đ&atilde; định hướng cho nhiệm vụ khai ph&aacute; về nguồn gốc của những ng&ocirc;n ngữ hiện diện ở khu vực trong mối quan hệ họ h&agrave;ng cũng như tiếp x&uacute;c của ch&uacute;ng. Ở Hội nghị ng&ocirc;n ngữ học X&ocirc; &ndash; Việt, Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u viết về <em>Một từ chỉ trỏ chung của nhiều ng&ocirc;n ngữ Đ&ocirc;ng Nam &Aacute; </em>(1983) để x&aacute;c định nguồn gốc của từ chỉ trỏ &ldquo;ni&rdquo; của nhiều ng&ocirc;n ngữ trong khu vực. Cũng c&ugrave;ng phương ph&aacute;p ấy, bằng những thủ ph&aacute;p ng&ocirc;n ngữ học ph&acirc;n t&iacute;ch, B&agrave; chỉ ra <em>Quan hệ họ h&agrave;ng của c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ Đ&ocirc;ng Dương qua những đặc điểm ngữ ph&aacute;p v&agrave; cấu tạo từ </em>(1983, tiếng Đức). Rồi B&agrave; lại tiếp tục <em>Xem lại quan hệ giữa tiếng Việt v&agrave; ng&agrave;nh Th&aacute;i qua một số tộc từ</em> (1998). Lấy cơ sở từ sự tương đồng của tiếng Việt v&agrave; một số ng&ocirc;n ngữ thuộc ng&agrave;nh Th&aacute;i về những tộc từ, những nh&oacute;m gồm những từ vừa c&oacute; li&ecirc;n hệ với nhau về nghĩa lại c&oacute; li&ecirc;n hệ với nhau về mặt ngữ &acirc;m, t&aacute;c giả đ&atilde; đưa ra một chủ kiến của m&igrave;nh về loại h&igrave;nh của tiếng Việt. B&agrave; cho rằng qu&aacute; tr&igrave;nh tiếp x&uacute;c l&acirc;u d&agrave;i ở đồng bằng s&ocirc;ng Hồng v&agrave; s&ocirc;ng M&atilde; với c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ Th&aacute;i v&agrave; sau đ&oacute; l&agrave; tiếng H&aacute;n đ&atilde; thay đổi loại h&igrave;nh tiếng Việt từ cơ tầng M&ocirc;n &ndash; Khmer th&agrave;nh một ng&ocirc;n ngữ thuộc hệ H&aacute;n &ndash; Th&aacute;i. Suy nghĩ n&agrave;y của B&agrave; dường như chia sẻ với c&aacute;ch ph&acirc;n loại của H. Masp&eacute;ro. V&agrave; gần đ&acirc;y, tr&ecirc;n con đường lu&ocirc;n t&igrave;m t&ograve;i kh&ocirc;ng định ngơi nghỉ, B&agrave; ph&aacute;t hiện ra một nguồn ngữ liệu v&ocirc; c&ugrave;ng phong ph&uacute;, đ&oacute; ch&iacute;nh l&agrave; hệ thống số đếm của c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ. Năm 2009, khi đ&atilde; 75 tuổi, Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u vẫn tr&igrave;nh b&agrave;y b&aacute;o c&aacute;o <em>Cấu tạo từ của hệ thống số đếm trong c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ</em> (2009) tại phi&ecirc;n to&agrave;n thể của Hội nghị quốc tế Nghi&ecirc;n cứu v&agrave; giảng dạy ng&ocirc;n ngữ, văn h&oacute;a Việt Nam &ndash; Trung Quốc. B&agrave;i viết l&agrave; sự giải m&atilde; hệ thống số đếm trong c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ trải d&agrave;i tr&ecirc;n những ngữ tộc kh&aacute;c nhau từ đ&ocirc;ng sang t&acirc;y để kh&aacute;m ph&aacute; c&aacute;ch tư duy mang t&iacute;nh phổ qu&aacute;t của to&agrave;n nh&acirc;n loại cũng như những đặc trưng d&acirc;n tộc của những chủ nh&acirc;n từng hệ thống số đếm phản &aacute;nh qua ng&ocirc;n ngữ. V&agrave; hệ thống số đếm lại một lần nữa cung cấp ngữ liệu để giải quyết được một đề t&agrave;i từ l&acirc;u đ&atilde; c&oacute; rất nhiều tranh c&atilde;i, B&agrave; <em>Thử giải th&iacute;ch c&aacute;ch ph&acirc;n v&ugrave;ng ngữ tộc Nam &Aacute; tr&ecirc;n cứ liệu hệ thống số đếm</em> (2011). D&ugrave; rằng khi&ecirc;m tốn đặt ti&ecirc;u đề l&agrave; &ldquo;Thử&rdquo; nhưng b&agrave;i viết thực sự đ&atilde; minh định được địa b&agrave;n cư tr&uacute; của c&aacute;c nh&oacute;m d&acirc;n cư thuộc họ ng&ocirc;n ngữ Nam &Aacute;. Địa b&agrave;n &ldquo;quen thuộc&rdquo; m&agrave; B&agrave; đ&atilde; ph&aacute;c họa trong b&agrave;i viết đầu ti&ecirc;n nghi&ecirc;n cứu về t&ecirc;n s&ocirc;ng c&aacute;ch đ&acirc;y chừng 50 năm. Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u vẫn lu&ocirc;n l&agrave; một nh&agrave; khoa học c&oacute; &ldquo;huệ nh&atilde;n&rdquo;. B&agrave; lu&ocirc;n kh&aacute;i qu&aacute;t được những vấn đề rộng lớn từ những cứ liệu giản đơn m&agrave; kh&ocirc;ng k&eacute;m phần độc đ&aacute;o khiến kh&ocirc;ng &iacute;t lần học giới phải ngỡ ng&agrave;ng.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
	<span style="font-size:14px;">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 6. Năm hướng nghi&ecirc;n cứu trong cuộc đời l&agrave;m khoa học của Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u (Địa danh học, Phương ngữ học, Ng&ocirc;n ngữ c&aacute;c d&acirc;n tộc thiểu số, Dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ v&agrave; Ng&ocirc;n ngữ học lịch sử v&agrave; địa l&yacute;) tưởng chừng l&agrave; những mảnh gh&eacute;p rời rạc, những đường thẳng song song tr&ecirc;n từng phương diện chẳng bao giờ c&oacute; thể gặp được nhau nhưng thực tế lại h&agrave;i h&ograve;a trong sự gắn kết bởi Ngữ &acirc;m học. Ngữ &acirc;m học như một chiếc ch&igrave;a kh&oacute;a gi&uacute;p B&agrave; kh&aacute;m ph&aacute; những vấn đề mới, khảo chứng những nan đề cũ tr&ecirc;n dặm d&agrave;i học tập v&agrave; nghi&ecirc;n cứu. Ngữ &acirc;m học cung cấp những cơ sở để giải m&atilde; những địa danh ở Việt Nam v&agrave; khu vực. Phương ngữ học cũng được cụ thể h&oacute;a từ những ph&acirc;n biệt ngữ &acirc;m. Nếu kh&ocirc;ng c&oacute; cơ sở m&ocirc; tả ngữ &acirc;m c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ d&acirc;n tộc thiểu số th&igrave; kh&ocirc;ng thể kh&aacute;i qu&aacute;t loại h&igrave;nh ngữ &acirc;m v&agrave; c&agrave;ng kh&ocirc;ng thể tiến tới x&acirc;y dựng bộ chữ ghi &acirc;m ph&ugrave; hợp. Đối với địa hạt dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, dạy ph&aacute;t &acirc;m lại c&agrave;ng quan trọng nhưng từ l&acirc;u &iacute;t được quan t&acirc;m đ&uacute;ng mực n&ecirc;n những hướng dẫn vận dụng ngữ &acirc;m v&agrave;o giảng dạy của B&agrave; c&agrave;ng trở n&ecirc;n gi&aacute; trị. Đặc biệt, ngữ &acirc;m học v&agrave; những thủ ph&aacute;p nghi&ecirc;n cứu đ&atilde; mở ra những nghi&ecirc;n cứu li&ecirc;n ng&agrave;nh giữa nghi&ecirc;n cứu ng&ocirc;n ngữ v&agrave; nghi&ecirc;n cứu lịch sử, nghi&ecirc;n cứu địa l&yacute;. Những quy luật ngữ &acirc;m gi&uacute;p phục nguy&ecirc;n được dạng cổ của những từ gốc Việt được văn tự h&oacute;a m&agrave; một số vấn đề lịch sử giai đoạn cổ xưa được l&yacute; giải. Cũng ch&iacute;nh bằng những ph&acirc;n t&iacute;ch tương đồng về mặt ngữ &acirc;m để thấy được v&ugrave;ng ph&acirc;n bố của c&aacute;c ng&ocirc;n ngữ họ h&agrave;ng. Tưởng chừng ngữ &acirc;m học với những y&ecirc;u cầu về sự ch&iacute;nh x&aacute;c, tỉ mỉ sẽ ảnh hưởng tới phong c&aacute;ch của những nh&agrave; ng&ocirc;n ngữ học d&ugrave;ng ngữ &acirc;m như một đường hướng tiếp cận, song c&oacute; lẽ Gs Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u l&agrave; một trường hợp đặc biệt. B&agrave; lu&ocirc;n vượt qua những hạn chế của sự ph&acirc;n t&iacute;ch vụn vặt m&agrave; hướng tới những vấn đề c&oacute; t&iacute;nh kh&aacute;i qu&aacute;t, mang b&oacute;ng h&igrave;nh của người khai ph&aacute;. Quả thực, suốt cuộc đời m&igrave;nh, B&agrave; đ&atilde; bền bỉ như một con thuyền chở nặng những tri thức ng&ocirc;n ngữ học đến với cuộc đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
	<span style="font-size:14px;">V&agrave; c&oacute; lẽ rồi đ&acirc;y &ldquo;c&ocirc; Ch&acirc;u&rdquo; sẽ chẳng c&ograve;n l&agrave; con thuyền c&ocirc; độc giữa kh&oacute;i s&oacute;ng nữa. Bạn b&egrave; đồng nghiệp tr&acirc;n trọng những c&ocirc;ng việc của B&agrave;, những học tr&ograve; ch&acirc;n ch&iacute;nh lu&ocirc;n giữ m&atilde;i trong tim h&igrave;nh ảnh c&ocirc; gi&aacute;o khả k&iacute;nh của họ v&agrave; x&atilde; hội cũng đ&atilde; c&oacute; c&aacute;ch ri&ecirc;ng để vinh danh B&agrave;. Học h&agrave;m Gi&aacute;o sư, học vị Tiến sĩ, danh hiệu Nh&agrave; gi&aacute;o Nh&acirc;n d&acirc;n, Giải thưởng Nh&agrave; nước về khoa học v&agrave; c&ocirc;ng nghệ. Nhưng dường như tất cả những danh hiệu ấy nhạt nh&ograve;a trước chỉ một điều duy nhất B&agrave; gửi lại, đ&oacute; l&agrave; những suy tư về ng&ocirc;n ngữ học, về tiếng Việt v&agrave; về việc ứng dụng ch&uacute;ng v&agrave;o cuộc sống.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
	<span style="font-size:14px;">Trong cuộc đời n&agrave;y, mỗi con người sẽ lựa chọn cho m&igrave;nh một d&ograve;ng chảy. C&oacute; những d&ograve;ng chảy muốn vươn m&igrave;nh thể hiện t&agrave;i năng vượt trội để được long lanh dưới &aacute;nh nắng mặt trời nhưng cũng c&oacute; những ngoại lệ nhẹ nh&agrave;ng ẩn m&igrave;nh th&agrave;nh d&ograve;ng nước ngầm để lắng lại trầm t&iacute;ch m&agrave; cũng để &acirc;m thầm tưới tắm cho những mầm c&acirc;y non nớt. Ho&agrave;ng Thị Ch&acirc;u l&agrave; một trong những mạch nước ngầm tinh khiết ấy./.</span></p>
<div>
	<p style="text-align: justify;">
		&nbsp;</p>
	<hr align="left" size="1" width="33%" />
	<div id="ftn1">
		<p style="text-align: justify;">
			<span style="font-size:14px;"><a href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/#_ftnref1" name="_ftn1" title="">[1]</a> B&agrave;i viết Về danh hiệu &ldquo;H&ugrave;ng Vương&rdquo; của GS Trần Quốc Vượng in trong H&ugrave;ng Vương dựng nước - tập 3, NXB Khoa học x&atilde; hội, 1973, tr. 353-355.</span></p>
	</div>
</div>
<p>
	&nbsp;</p>
		</div>
	</div>
	<div id="footer" class="clearfix">
		<div id="url">
			<strong>URL của bản tin này: </strong><a href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/savefile/tac-gia-tac-pham/yen-lang-nhat-co-chau-992.html" title="Yên Lãng nhất cô Châu">https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/savefile/tac-gia-tac-pham/yen-lang-nhat-co-chau-992.html</a>

		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div class="copyright">
			&copy; Khoa Ngôn ngữ học
		</div>
		<div id="contact">
			<a href="mailto:webmaster@flis.vinades.my">webmaster@flis.vinades.my</a>
		</div>
	</div>
</div>
        <div id="timeoutsess" class="chromeframe">
            Bạn đã không sử dụng Site, <a onclick="timeoutsesscancel();" href="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/#">Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập</a>. Thời gian chờ: <span id="secField"> 60 </span> giây
        </div>
        <div id="openidResult" class="nv-alert" style="display:none"></div>
        <div id="openidBt" data-result="" data-redirect=""></div>
<div id="run_cronjobs" style="visibility:hidden;display:none;"><img alt="cron" src="/index.php?second=cronjobs&amp;p=i8gjhv9m" width="1" height="1" /></div>
<script src="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/jquery/jquery.min.js"></script>
<script>var nv_base_siteurl="/",nv_lang_data="vi",nv_lang_interface="vi",nv_name_variable="nv",nv_fc_variable="op",nv_lang_variable="language",nv_module_name="nghien-cuu-khoa-hoc",nv_func_name="savefile",nv_is_user=0, nv_my_ofs=7,nv_my_abbr="+07",nv_cookie_prefix="nv4",nv_check_pass_mstime=1738000,nv_area_admin=0,nv_safemode=0,theme_responsive=1,nv_recaptcha_ver=2,nv_recaptcha_sitekey="6LfUJLoZAAAAAOF-uL1e3WO-MbQOZOJfBeGwOWBw",nv_recaptcha_type="image",XSSsanitize=1;</script>
<script src="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/language/vi.js"></script>
<script src="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/DOMPurify/purify3.js"></script>
<script src="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/global.js"></script>
<script src="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/site.js"></script>
<script src="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/js/news.js"></script>
<script src="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/main.js"></script>
<script src="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/custom.js"></script>
<script type="application/ld+json">
        {
            "@context": "https://schema.org",
            "@type": "Organization",
            "url": "https://ling.ussh.vnu.edu.vn",
            "logo": "https://ling.ussh.vnu.edu.vn/uploads/ling/logo_9.png"
        }
        </script>
<script src="https://ling.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/bootstrap.min.js"></script>
</body>
</html>